Phương pháp điều trị mụn trứng cá (P5)

Điều trị mụn trứng cá hiện nay

Điều trị mụn trứng cá tại chỗ (tiếp theo)

Các sản phẩm tại chỗ có ưu điểm là được sử dụng trực tiếp lên vùng bị ảnh hưởng, do đó làm giảm sự hấp thụ toàn thân và tăng sự tiếp xúc của các đơn vị tuyến bã nang lông với điều trị. Tuy nhiên, tác dụng phụ chủ yếu của các sản phẩm chống mụn được bôi tại chỗ là kích ứng da. Các chế phẩm sử dụng tại chỗ có sẵn có các công thức khác nhau, bao gồm kem, gel, lotion, dung dịch và nước rửa [24].

Trị liệu tại chỗ dựa trên phân loại và mức độ nghiêm trọng của mụn trứng cá. Mụn trứng cá nhẹ thường được điều trị bằng retinoids tại chỗ hoặc một loạt các phương pháp điều trị đa dạng như axit azelaic, axit salicylic và peroxit benzoyl. Mụn viêm từ nhẹ đến nặng có thể được điều trị bằng thuốc chống viêm tại chỗ cũng như kháng sinh tại chỗ [9]. Các loại thuốc chống mụn trứng cá khác nhau nhắm vào các yếu tố sinh lý bệnh lý khác nhau [25] và một vài phương pháp điều trị tại chỗ phổ biến sẽ được thảo luận dưới đây.

Điều trị khác

Các phương pháp điều trị tại chỗ khác được sử dụng cho mụn trứng cá, chẳng hạn như peel hóa chất, benzoyl peroxide, dapsone, v.v. sẽ được thảo luận trong phần sau.

Axit salicylic
axit salicylic 2%
axit salicylic 2%

Salicylic acid được biết đến như một tác nhân bạt sừng có cơ chế hoạt động là phân hủy liên kết nội bào giữ các tế bào biểu mô lại với nhau [8]. Thuốc có tác dụng chống viêm yếu, tăng cường sự xâm nhập của một số chất nhất định và ở nồng độ thấp có tính kháng nấm và kìm khuẩn. Axit salicylic được tìm thấy trong một số sản phẩm không kê đơn để điều trị mụn trứng cá [8,27].

Peel hóa chất với axit hydroxy

Peel hóa chất liên quan đến tái tạo bề mặt nhờ đó loại bỏ lớp biểu bì kích thích tái tạo biểu mô và trẻ hóa da [30]. Phương pháp này cũng làm giảm sắc tố da và sẹo bề mặt của da [25].

Liệu pháp này có thể được chia thành các nhóm khác nhau tùy theo độ sâu thâm nhập và phá hủy của nó. Các axit alpha-hydroxy (như axit glycolic và axit lactic) và axit beta-hydroxy (như axit salicylic) là những hóa chất phổ biến nhất được sử dụng trong peel hóa chất [24,30,31].

acid glycolic 70%
acid glycolic 70%

Nồng độ axit salicylic cao hơn nhiều (20% – 30%) thường thấy có trong peel hóa chất hơn so với các sản phẩm làm sạch mụn hàng ngày [30]. Có rất ít bằng chứng hay dữ liệu cho thấy peel tương đối an toàn khi sử dụng [32]. Do đó axit salicylic nên được coi là một điều trị bổ sung hơn là một điều trị đầu tay [31].

Benzoyl Peroxide

Benzoyl peroxide là một chất khử trùng tại chỗ, ban đầu được sử dụng như một chất peel để điều trị mụn trứng cá [33]. Thuốc có tính chất đa dạng khiến cho nó trở thành một chất vừa ngăn ngừa mụn và kháng khuẩn. Nó không có ảnh hưởng trong việc sản xuất bã nhờn. Benzoyl peroxide đã chứng minh hoạt động diệt khuẩn chống lại P. acnes bằng cách giải phóng oxy gốc tự do, làm suy giảm protein của vi khuẩn [8,27]. Bershad [1] nói rằng ngoài việc điều trị thành công mụn viêm, benzoyl peroxide cũng làm giảm số lượng mụn trứng cá trên da.

Benzoyl peroxide là một phương pháp điều trị quan trọng đối với mụn trứng cá từ nhẹ đến trung bình. Mặc dù nó có thể được sử dụng như đơn trị liệu trong khoảng thời gian 6 – 8 tuần, nó thường được kết hợp với kháng sinh tại chỗ để giảm sự kháng của các loài P. acnes và tăng hiệu quả của việc điều trị [9,15,25]. Gollnick và Krautheim [25] cho rằng benzoyl peroxide được kết hợp tốt nhất với retinoids tại chỗ. Tuy nhiên, người ta đã phát hiện ra rằng tất cả retinoids (trừ adapalene) đều không ổn định khi kết hợp với benzoyl peroxide và do đó nên được sử dụng riêng biệt [6]. Các tác dụng phụ chính của benzoyl peroxide bao gồm bỏng rát, khô da, ban đỏ, bong tróc hoặc châm chích [24].

Axit Azelaic
Acid Azelaic
Acid Azelaic

Axit Azelaic là một axit dicarboxylic tự nhiên có tác dụng ức chế tổng hợp protein của loài P. acnes [34,35]. Đây là một tác nhân hiệu quả vì nó có đặc tính kìm khuẩn, chống viêm, chống oxy hóa và chống keratin hóa [36]. Do đó, vi khuẩn P. acnes không kháng được axit azelaic [37]. Người ta cũng đề xuất rằng khi sử dụng axit azelaic kết hợp với clindamycin, axit benzoyl peroxide hoặc axit α-hydroxy sẽ hiệu quả hơn [25].

Lưu huỳnh

Trước đây, lưu huỳnh thường được sử dụng trong các chế phẩm trị mụn trứng cá. Tuy nhiên, hoạt chất này trở nên không phổ biến do mùi hôi của nó [31]. Lưu huỳnh là một hóa chất được chứng minh là có đặc tính tiêu sừng và kìm khuẩn nhẹ. Lưu huỳnh được khử thành hydro sunfua bên trong các tế bào keratin được cho là phá vỡ keratin trong da [8]. Theo Akhavan và Bershad [8], lưu huỳnh cũng có hoạt tính chống P. acnes.

Hydrogen Peroxide

Một nghiên cứu của Tung và cộng sự [38] đã chỉ ra rằng một chế độ để điều trị mụn trứng cá từ nhẹ đến trung bình dựa trên hydro peroxide có khả năng chấp nhận thẩm mỹ, hiệu quả và an toàn khá tương đồng với chế độ dựa trên benzoyl peroxide.

Niacinamid

Niacinamide là một amide hoạt động của vitamin B3 và bao gồm niacin (còn được gọi là axit nicotinic) và amide của nó. Nó cũng có thể được gọi là nicotinamide [39,40]. Cơ chế hoạt động của nó có thể được giải thích là ức chế sự bài tiết của bã nhờn, dẫn đến sản xuất bã nhờn ít hơn làm giảm độ nhờn của da [40,41]. Nó cũng có đặc tính chống viêm được chứng minh là có lợi trong mụn mủ cũng như mụn sẩn [42,43]. Thuốc bôi tại chỗ của niacinamide 4% đã dẫn đến những cải thiện đáng kể đối với mụn trứng cá trên toàn thế giới [40].

Corticosteroid tại chỗ
A tube of hydrocortisone cream on a domestic bathroom top with a blue background. 930857676

Corticosteroid tại chỗ có thể được sử dụng trong một số tình trạng, ví dụ như để điều trị mụn trứng cá rất viêm. Tuy nhiên, thời gian điều trị nên ngắn [25] và bằng chứng về hiệu quả của chúng vẫn được xác định [31].

Triclosan

Triclosan là một chất kháng khuẩn (sát trùng) có thể được sử dụng để điều trị mụn trứng cá [44]. Người ta đã xác định rằng quần thể vi khuẩn không sinh ra đề kháng với triclosan trong điều kiện lâm sàng [45]. Không có tác dụng phụ nào được dự đoán khi sử dụng các sản phẩm có chứa triclosan như đề nghị [46].

Natri Sulfacetamid

Tác nhân này thuộc nhóm kháng khuẩn sulfonamid. Nó có tác dụng kìm khuẩn bằng cách ức chế quá trình tổng hợp axit deoxyribonucleic (DNA) thông qua sự đối kháng cạnh tranh của axit para-aminobenzoic (PABA). Natri sulfacetamide có hoạt tính chống lại một số tác nhân gram dương và gram âm, nhưng thường chỉ được sử dụng khi bệnh nhân không thể dung nạp các thuốc khác [8,9].

Dapsone
dapson gel
dapson gel

Dapsone sở hữu tính năng hoạt động kháng khuẩn và chống viêm, mặc dù cơ chế hoạt động chống lại mụn trứng cá chính xác của nó vẫn chưa được rõ ràng [31,47]. Tuy nhiên, gần đây có ý kiến cho rằng cơ chế hoạt động của dapsone trong điều trị mụn trứng cá có thể là do tác dụng kháng khuẩn và chống viêm [48].

Thuốc dạng gel (5%) có thể được sử dụng để giảm viêm cũng như các tổn thương do mụn không viêm [49]. Chi phí thấp hơn của thuốc này giúp sử dụng thuận lợi hơn ở các nước đang phát triển [31]. Tuy nhiên, dapsone không được khuyến khích là trị liệu đầu tay [47].

Nguồn NCBI

(Còn tiếp)

Mọi thắc mắc, đừng ngần ngại, hãy liên hệ trực tiếp với Dr Ngọc qua facebook https://www.facebook.com/caoxuan.ngoc hoặc qua youtube https://www.youtube.com/channel/UCYO8RPtaJnD2bxC8CZl1_PA/featured

Xem thêm:

Những hiểu biết về cách điều trị mụn trứng cá (P1)

Điều trị và ngăn ngừa nguyên nhân chủ yếu gây nên sẹo mụn

Liều thuốc trị mụn isotretinoin – liều lượng như thế nào mới đúng?

Nám và vết thâm sau mụn có thể chữa trị được? Phác đồ điều trị dành cho bạn

Một số lời khuyên của bác sĩ da liễu dành cho sẹo mụn